 |
|
nvdtdnguyen
member
REF: 280112
01/03/2008
|
>>
xem chủ đề
SỐ BẬC CỦA QUÃNG
Chú ý: Từ nay ta sẽ ký hiệu tên các note theo tiếng Anh như sau:
Để đặt tên cho các bật của quãng, người ta dựa vào thứ tự của cung bậc trên 2 note của bát âm (octave). Hay nói cách khác, số bậc của quãng là số bậc của 2 note gần nhau. Trong một bát âm có 8 bậc. Vì vậy, tên quãng thì có từ 1 đến 8 như sau:
1.Quảng 1:
Là quãng giữa 2 note cùng bậc. Ví dụ: Do-Do; Re-Re;...
2.Quảng 2:
Là quãng giữa 2 note cách nhau 2 bậc. Ví dụ: Do-Re; Re-Mi;...
Quãng 2 có các loại quãng 2 trưởng, quãng 2 thứ, quãng 2 tăng và quãng 2 giảm. Sau đây bạn có thể thấy được số lượng nửa cung phụ thuộc vào chất lượng của quãng 2:

Quãng 2 giảm,: 0 nửa cung

Quãng 2 thứ: 1 nửa cung

Quãng 2 trưởng: 2 nửa cung

Quãng 2 tăng: 3 nửa cung
Xác định chất lượng quãng 2
Quãng 2 là loại quãng dễ xác định nhất. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải thành thạo việc xác định quãng 2 trước khi đi vào xác định các quãng khác.
Ðể xác định chất lượng của quãng 2 chúng ta phải biết:
- Số lượng nửa cung chứa trong mỗi loại quãng 2
- Thứ tự các nốt nhạc (C, C#-Db, D v.v...). Chúng ta phải nhớ rằng ngoài Mi-Fa và Si-Ðô, khoảng cách giữa hai nốt tự nhiên là một cung.
Khi thuộc lòng những yếu tố này, chúng ta có thể tính ra được số nửa cung trong nháy mắt.

Một cách khác để xác định chất lượng quãng 2
Nếu là hai nốt tự nhiên, chúng ta không cần phải tính số nửa cung nếu như vẫn nhớ rằng chỉ có Mi-Fa và Si-Ðô là nửa cung. Nếu có dấu hóa, chúng ta sử dụng phương pháp sau:
- Ðưa tất cả các nốt về tự nhiên để xác định chất lượng
- Cộng thêm dấu hoá và xem xét ảnh hưởng của nó đối với quãng
Ví dụ: G#-A#:

- Ðưa các nốt về tự nhiên ta được G-A là một quãng 2 trưởng. (vì chỉ có E-F và B-C là quãng 2 thứ)
- Cộng thêm dấu thăng của nốt Sol. Quãng này bây giờ nhỏ lại và nó trở thành quãng 2 thứ.
- Cộng thêm một dấu thăng vào nốt La. Quãng này lớn lên và trở thành một quãng 2 trưởng.
Một ví dụ khác: C#-D (dấu thăng kép)

- Ðưa các nốt về tự nhiên ta được C-D là một quãng 2 trưởng (vì chỉ có E-F và B-C là quãng 2 thứ).
- Cộng một dấu thăng vào nốt Ðô. Quãng này nhỏ lại trở thành quãng 2 thứ.
- Cộng một dấu thăng nốt Rê. Quãng này lớn lên trở thành quãng 2 trưởng.
- Công tiếp một dấu thăng vào nốt Rê. Quãng này tiếp tục lớn thêm và trở thành quãng 2 thăng.
Phương pháp này rất hữu dụng đối với những quãng có chứa dấu hóa.
(Còn tiếp)
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 280095
01/03/2008
|
>>
xem chủ đề
QUÃNG
I. Định nghĩa:
Quãng là khoảng cách giữa hai nốt nhạc. Quãng có thể được tạo từ 2 note chống lên nhau theo chiều đứng hoặc từ 2 note viết kế nhau theo chiều ngang. Ðể xác định một quãng ta phải biết được kích cỡ số học và chất lượng của nó.
- Quãng theo chiều đứng gọi là quãng hòa âm (intervalle harmonique), vì có 2 note phát ra cùng một lúc. Quãng hòa âm được đọc từ âm gốc đến âm ngọn. Theo ví dụ dưới đây thì ta lần lượt đọc từ trái sang phải là Đô-Đô, Đô-Re, Đô-Mi, Đô-Fa, Đô-Sol, Đô-La, Đô-Si, Đô-Đố.

- Quãng viết theo chiều ngang được gọi là quãng đơn điệu (intervalle molodique), vì có 2 note phát ra theo thứ tự trước sau. Quãng giai điệu có thể đi lên hoặc đi xuống. Khi đọc quãng giai điệu, người ta đọc từ âm gốc đến âm ngọn và đọc hướng lên hoặc xuống (tùy theo bài). Theo ví dụ dưới đây thì đọc là
Sol-Si, Si-Sol.

II. Kích cỡ số học của quãng:
Bằng cách tính toán số lượng nốt nhạc trong một quãng mà chúng ta có thể xác định được kích cỡ số học của nó. Khi tính toán phải bao gồm cả nốt đầu tiên và nốt kết thúc. Ví dụ từ Ðô tới Mi chúng ta có một quãng 3 (C-1, D-2, E-3). Trong phần kế tiếp bạn sẽ biết được mối quan hệ giữa số nốt và kích cỡ số học của quãng:

Tuy nhiên, không phải tất cả các quãng có cùng giá trị số học như nhau đều có kích cỡ giống nhau. Ðó là lý do tại sao chúng ta cần phải xác định chất lượng của quãng bằng cách xác định chính xác số cung và nửa cung trong quãng.
Bài tập làm thử:
Trong bài BALLADE POUR ADELINE sau đây có sử dụng quãng không? Nếu có hãy khoanh tròn những ô có sử dụng quãng.


Bài này tương đối dài nên tôi phân ra từng chút ít vậy để dễ hiểu!
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 280082
01/03/2008
|
>>
xem chủ đề
MỘT SỐ THUẬT NGỮ DÙNG TRONG ÂM NHẠC
Ở bài này, thì ở trong trang này đã có rồi và tôi thấy cũng khá đầy đủ nên cũng không viết thêm gì cho mất thời gian.
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 280027
01/03/2008
|
>>
xem chủ đề
II. NGHỊCH PHÁCH (Contre-temps):
Nghịch phách còn gọi là nhịp chỏi được hể hiện bằng cách im lặng hoàn toàn nơi phách mạnh, âm phát ra nơi phách yếu. Nghịch phách tạo ra một sự kích động, hụt hẫng, làm cho đoạn nhạc nhộn nhịp, vui hơn.
Ví dụ1:
Trong bài LOVE STORY của Francis Lai:


Ở ô nhịp thứ 2 trong đoạn nhạc trên, phách mạnh bị im bằng lặng đen, tạo ra nghịch phách.
Ở ô nhịp thứ 5, phách mạnh bị im bằng dấu lặng đen, tạo ra nghịch phách.
Ví dụ2:
Trong bài KNOCK THREE TIMES:

Ở ô thứ 3 trong đoạn nhạc trên, phách mạnh bị im bằng dấu lặng đen, tạo ra nghịch phách. Trong bài còn có nhiều đoạn nghịch phách tương tự.
Loại nghịch phách trình bày ở vd 1 và 2 dựa vào sự yên lặng của phách mạnh, loại này được chia ra làm 2 loại :
- Nghịch phách đều:
Khi giá trị của dấu lặng bằng giá trị của hình note thì người ta gọi đó là nghịch phách đều. Ví dụ:


Qua trích đoạn bài LOVE STORY của Francis Lai, ở ô nhịp thứ 2-4-6 có dấu lặng móc và dấu móc đơn phách 1 (phách mạnh). Phách 1 được chia làm 2 chi phách hay 2 thì (temp), một chi phách là dấu lặng móc và chi phách kế tiếp là dấu móc đơn. Hai dấu này có giá trị trường độ bằng nhau, vì vậy đây là nghịch phách đều.
- Nghịch phách không đều:
Khi giá trị của 2 chi phách của phách 1 (mạnh) không bằng nhau.
vd: Hình note dài hơn dấu lặng.
TONIGHT'S SO COLD

Trong đoạn trích TONIGHT'S SO COLD, các ô nhịp 1-3-5 đều có dấu lặng đơn và dấu móc đơn ở phách 1, đó là nghịch phách đều (2 chi của phách 1 bằng nhau).
Đến ô nhịp thứ 7 , dấu lặng đơn của phách đầu, kế tiếp là note đen. Vậy đó là nghịch phách có hình note dài hơn dấu lặng, được gọi là nghịch phách không đều
Ví dụ 2: dấu lặng dài hơn hình note.
Trong trích đoạn của bài TONIGHT'S SO COLD, ô nhịp 9 có dấu lặng đen và dấu lặng đơn (phách 1 kéo dài đến chi đầu của phách 2 là dấu lặng), chi cuối của phách 2 là note móc đơn. Vậy đó là nghịch phách có dấu lặng dài hơn hình note, được gọi là nghịch phách không đều

|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279745
01/03/2008
|
>>
xem chủ đề
Trời! Hình như đâu phải trà đâu! Cà phê mà!
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279680
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
TIẾT TẤU
Tiết tấu là sự nối tiếp có hệ thống những note có trường độ giống hoặc khác nhau. Sự nối tiếp trường độ các note kế nhau sẽ tạo ra đảo phách và nghịch phách. Nói cách khác, sự nối tiếp trường độ các note kế nhau sẽ làm thay đổi cách diễn các phách mạnh, nhẹ, việc đó tạo ra tiết tấu cho câu nhạc. Phách mạnh là phách có trọng âm nhấn mạnh qua các chu kỳ đều đặn.
I. Đảo phách (Syncope):
Đảo phách là một dạng phân chia thứ tự ngoại lệ giữa các phách mạnh yếu. Khi đảo phách, note nhạc ở phách yếu ngân dài, chiếm cả phách mạnh kế đó. Khi đảo phách, note mạnh mất sự quan trọng khi bắt đầu phách, bị chìm dưới sự ngân dài của phách phía trước. Lúc này, các note trong ô nhịp không còn dựa vào trật tự mạnh yếu, ví dụ:
Phách yếu ở ô nhịp 1 nối dài qua nửa phách mạnh ở ô nhịp 2.
Phách yếu ở ô nhịp 3 nối dài qua phách mạnh ở ô nhịp 4.
Mục đích của đảo phách là làm cho đoạn nhạc có vẻ khập khễnh, ngập ngừng. Đảo phải còn giúp cho đoạn nhạc bớt đơn điệu, buồn tẻ.
Tùy theo giá trị trường độ của các note nối nhau trong đảo phách mà người ta phân loại như sau:
1. Đảo phách cân:
Khi note đứng trước và note đứng sau trong đảo phách có cùng trường độ. Ví dụ trong một đoạn nhạc của bài DOMINO, chúng ta có đảo phách cân. Đảo phách cân được tạo ra từ cuối ô nhịp trước với note đen đầu ô nhịp sau.

2. Đảo phách lệch:
Khi note đứng trước có trường độ lớn hơn note đứng sau. Ví dụ ở bài LA PALOMA, note trắng ở ô nhịp 2 nối với note móc trong liên ba của ô nhịp 3.

Hoặc ở bài JE T'ATTENDRAI, note trắng ở ô nhịp trước nối với note đen của ô nhịp sau:

3. Đảo phách thọt(đảo phách gẫy):
Khi note đứng trước có trường độ nhỏ hơn note đứng sau. Ví dụ, trong bài MA PRIÈRE, C,EST TOI thì note móc ở phách 2 nối với note đen ở phách 3:

|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279647
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
Nếu như chúng ta hát karaoke thì chúng ta phải hát theo nhạc, mà theo nhạc thì bạn phải hát cao. Như tôi mỗi khi hát cao thì mặt nhăn lại như "con khỉ bị giành người yêu"!! Còn nếu như ca nhạc sống thì ta có thể giảm tông xuống (khi muốn giảm tông thì hạ các note trong bài xuống)!
Tôi ở đây không muốn nói rằng ai thấp ai cao bởi vì mỗi người đều có một kiến thức nhất định và có kiến thức người này không có mà người kia lại có. Mà thôi, chắc có lẽ máy của tôi thiếu chương trình gì chăng mà không trình duyệt được những file hình của anh duym16!
Thôi thì chúng ta hãy chuyển từ "đối đầu sang đối thoại" đi ha!
Thân ái,
nvdtdnguyen
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279309
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
GIỌNG HÁT
Bài này giúp ta tìm hiểu về giọng của con người thường nằm trong khoảng nào để ta có thể biết mà hát được theo tiêu chuẩn của chính mình
Có 2 loại giọng hát:
- Giọng nam.
- Giọng nữ (có giọng trẻ em). Giọng nữ cao hơn giọng nam một quãng tám (octave).
Ở mỗi loại giọng hát lại được chia thành 2 nhóm: nhóm cao (giọng kim) và nhóm thấp (giọng trầm). ÂM vực của mỗi nhóm giọng thường nằm trong khoảng 15 note nhạc liên tiếp.
1. Giọng nữ cao:
Giọng nữ cao còn được gọi là giọng nữ kim hay giọng nữ 1 hoặc Soprano. Âm vực khá rộng, khoảng 17 note nhạc liên tiếp.
Âm vực của giọng nữ cao
2. Giọng nữ trâm:
Giọng nữ trầm còn được gọi là giọng trầm hay giọng nữ 2 hoặc giọng Alto. Âm vực khá rộng, khoảng 17 note nhạc liên tiếp.

Âm vực của giọng nữ trầm
3. Giọng nam cao:
Giọng nam cao còn được gọi là giọng kim nam hay giọng nam 1 hoặc giọng Tenor. Âm vực giọng nam cao khá rộng, khoảng 17 note liên tiếp.

Âm vực giọng nam cao
4. Giọng nam trâm:
Giọng nam trầm còn được gọi là giọng nam 2 hay giọng Basse. Ngoài ra, giọng nam trầm còn được phân ra 2 loại: giọng nam trầm 1 (Baryton), giọng nam trầm 2 (Basse). Âm vực giọng nam trầm khá rộng, khoảng 17 note nhạc liên tiếp.

Âm vực giọng nam trầm
Trong các bài hợp xướng, người ta thường dùng khóa Sol và khóa Fa 4 để ghi note cho các giọng hát. Về nhạc cụ cũng vậy, nếu nhạc cụ mang những âm trầm thì dùng khóa Sol. Nếu ở giọng hát hoặc nhạc cụ có âm vực vừa trầm vừa cao, người ta dùng cả 2 khóa Sol và Fa 4 để diễn đạt.
+ Chú ý: Khóa Sol dùng ở đây là khóa Sol 2
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279268
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
Bạn baxebe, nói thật lòng tôi vẫn không hiểu rằng tại sao tôi góp ý cho bạn duym16 rằng hãy copy cái dòng có chữ html code để mọi người có thể xem hình ảnh trực tiếp trên diễn đàn mà bạn lại nói tôi là ít hiểu biết hay với một ý nghĩa nào đó đại loại là vậy!
Chứ như tôi, khi xem bài của bạn duym16 thì ở những file hình ảnh nó không thể hiện được mà chỉ ghi dòng chữ "Photobucket" mà khi click vào đó thì tôi cũng không xem được hình, vậy chẳng hay tôi góp ý vậy là sai chăng?
Thôi, chúng ta cũng nên vui vẻ và hòa nhã với nhau chứ đừng để không khí "chiến tranh lạnh" thế này ha!
Chúc vui vẻ,
nvdtdnguyen
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279202
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
Xin lỗi vì có lẽ tôi viết văn không được hay lắm nên có thể làm mọi người tưởng nhầm rằng tôi đang chửi bới hay kêu căng!
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279201
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
Trời ơi! Kêu giải thích không thèm giải thích thì từ nãy đến giờ tôi có nói là tôi khá thông minh đâu, vậy tôi xin hỏi cho rõ "HTM-code và Share URL-Email&IM là cái chi?".
Ở trong bài mà tôi đã post còn rất nhiều chỗ còn thiếu mà tôi nhờ mọi người giúp giùm mà mọi người là "không thèm" giúp rồi nói tui "tự cao" (nếu tôi không muốn nghĩ rằng là "độc tài"!!!)
Tôi không có ý chửi bới ai, nhưng mà tự dưng bị gáng cho cái tội danh này thì quả thật là hơi bực!
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279199
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
BÀI ĐỌC THÊM
ÂM THANH
I. Âm thanh(son):
Âm thanh là một trong những hiện tượng vật lý, có quá trình diễn biến như sau: dao động của nguồn âm -) sóng âm -) tác động và cơ quan thính giác -) qua dây thần kinh ở tai để truyền vào não.
Tai con người có thể nghe được những âm thanh có tần số từ 16 Hz - 16000 Hz (Hz: chu kỳ trong 1 giây). Giọng hát của con người ở khoảng tần số 80 Hz - 1000 Hz. Sau đây là bảng so sánh nốt nhạc và tần số dao động.






II. Bồi âm:
Khi nguồn âm tạo ra rung động, phần chính của dao động sẽ là âm cơ bản, phần phụ của nguồn âm tạo ra những âm phụ gọi là bồi âm.
Ví dụ: Khi đánh dây đàn, dây đàn rung lên tạo thành âm cơ bản. Tuy nhiên sau đó các âm phụ được rung do 1/2 - 1/3 - 1/4 - 1/5... dây đàn là bồi âm.
III. Âm trình (Échelle musicale):
Trên cây đàn dương cầm, ta có thể nghe được những âm thanh từ âm thật trầm đến âm thật cao, từ phím thấp nhất đến phím cao nhất. Khoảng âm thanh mà chúng ta nghe được gọi là âm trình.
Trong khoảng rộng của âm trình, người ta chia âm trình thành 3 ÂM VỰC (Registre): âm vực trầm, âm vực trung và âm vực cao.

Nếu âm thanh đầu tiên của âm vực là số 1, âm thanh kế tiếp là số 2, 3, 4, 5, 6, 7. Đến âm thanh thứ 8 lại là số 1 nhưng có bậc cao hơn, người ta gọi đó là một bát độ (octave).
Trên thực tế người ta đặt tên các âm thanh đó là :
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
Đô |
Re |
Mi |
Fa |
Sol |
La |
Si |
IV. Thang âm:
Chúng ta đã biết 7 tên của âm thanh. Bảy tên của âm thanh cứ chồng lên nhau tạo thành một thang âm. Từ thang âm thứ nhất đến thang âm thứ 7 là hết một bát độ. Sau đó, lập lại tiếp từ âm thanh thứ nhất đến âm thanh thứ bảy nhưng có giọng cao hơn một bát độ.
........................_________Bát độ________
__________Bát độ________
Đô Re Mi Fa Sol La Si Đô Re Mi Fa Sol La Si Đô
..........________Bát độ________
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279177
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
Sở dĩ tôi kêu bạn duym16 sửa lại bài là vì nếu coi từng hình của từng cái hợp âm thì rất mất thời gian, nên xem trực tiếp từ diễn đàn sẽ tốt hơn!
Bạn baxebe, đã gọi là học nhạc lý dĩ nhiên phải như vậy, học nhạc lý là học nhạc lý, chơi đàn là chơi đàn, xướng âm là xướng âm. Mấy thứ này khác nhau nghen, nhạc lý là nền tảng để xướng âm cho tốt, nếu không có nhạc lý thì đố mấy nhạc công nhìn vào bản nhạc mà đàn được.
Nhạc lý là môn học liên quan đến những gì thuộc âm nhạc . Nhạc lý là chiếc chìa khóa giúp người nhạc sĩ sáng tác, là cây đũa thần giúp cho người nghệ sĩ biểu diễn hoàn hảo một tác phẩm. Nhạc lý giúp người nghe cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bản nhạc qua kỷ thuật biểu diễn.
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279174
01/02/2008
|
>>
xem chủ đề
Vậy chứ hỏi bạn baxebe rằng bạn duym16 làm như vậy là có ý định gì?
|
|
nvdtdnguyen
member
REF: 279084
01/01/2008
|
>>
xem chủ đề
KHÓA ĐÔ

Khóa Đô 3 (bên trái) và khóa Đô 4 (bên phải)
Có 4 loại khóa Đô:
- Khóa Đô 1, nốt Đô bắt đầu từ dòng nhạc thứ nhất. Thường dùng để ghi cho giọng nữ cao và xuất hiện ở các bản nhạc xưa -) Bây giờ không còn sử dụng.
- Khóa Đô 2, nốt Đô bắt đầu từ dòng nhạc thứ hai. Thường ít sử dụng và có thể nói rằng hiện nay không còn sử dụng.
- Khóa Đô 3, nốt Đô bắt đầu từ dòng nhạc thứ ba. Thường dùng để ghi cho giọng nữ trầm và đàn Hạ vĩ cầm (Alto),...

Khóa Đô 3, nốt Đô bắt đầu từ dòng nhạc thứ ba
- Khóa Đô 4, nốt Đô bắt đầu từ dòng nhạc thứ tư. Thường dùng để ghi cho giọng nam cao, kèn Basson (ghi note cao), kèn Trombone ténor, đàn Violoncelle (ghi note cao.

Khóa Đô 4, nốt Đô bắt đầu từ dòng nhạc thứ tư
--------------------
Như vậy là chúng ta đã xong pần khóa nhạc, tiếp theo thì tôi xin đăng một bài nói về kiến thức thôi chứ chả có liên quan gì tới nhạc lý!
Chú ý: Phần đầu của bài này là do tôi viết còn phần sau là do tôi đánh máy từ sách vở mà tôi tìm được!
|
|
|
|
Kí hiệu:
:
trang cá nhân :chủ
để đã đăng
:
gởi thư
:
thay đổi bài
:ý kiến |
|
|
|
|
|