 |
|
giangnamlangtu
member
REF: 39310
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Nhị Nữ Song Hành Tung Hoành Tứ Khẩu...
Tam Nam Đồng Toạ Thượng Hạ Lục Đầu...
Câu đối quá hay và quá chỉnh và hàm ý cũng rất sâu.
Tui cũng có một câu đối tiếng Việt đây. Ra câu đối rồi nhưng câu đáp là mới toanh.
Gái Củ Chi chỉ cu hỏi củ chi
Trai giải phóng phỏng giái đòi giải phóng.
Hay
Đường Bác đi bi đát sao Bác đi.
Một số chữ chưa chỉnh về âm đọc, nhưng nghe cũng tạm được chứ hả?
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39304
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Ông Già thật nhiền kiến thức khiến GNLT khâm phục lắm lắm. Nhưng có 1 chỗ mà Ông Già đã lộn rồi, có lẽ viết nhiều quá nên đến cuối bài có chút sai sót. GNLT xin đính chính lại nhé, không phải sửa lưng hay bắt bẽ già đâu nhé.
Ở bên Tàu thời Tam Quốc có 3 nước lớn là Ngụy, Ngô, và Thục, đứng đầu 3 nước này là Tào Tháo, Tôn Quyền và Lưu Bị. Quang Vân Trường là 1 trong Ngũ Hổ đại tướng quân đất Thục mà thôi.
Xin hỏi luôn Ông Già là trong Tam Quốc diễn nghĩa thì ông thích nhất là nhân vật nào? Và nhân vật nào ông cảm thấy tác giả xây dựng thành công nhất.
Thẳng ruột ngựa như Ông Già không Quang Vũ chắc là Trương Phi - Trương Dực Đức hay là Lư Bị (Lưu Huyền Đức)phải không?
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39303
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Ông Già kể chuyện hay quá. Tui cũng nổi hứng, xin kể một câu chuyện.
Có một ông khia, khi đang lái xe trong cơn mưa to che hết tầm quan sát, thì bổng có tiếng vọng: hãy dừng lại, dừng lại. Ông ta ngạc nhiên và dừng xe lại. Quả nhiên trước mắt ông ta là cây cầu đã sập.
Lần thứ 2 ông đang đi thì cũng có tiếng bảo dừng lại. Khi đó phía trước là đường đá lở. Ông ngac nhiên và chấp tay vái:
- Ai, ai đã cứu con, xin hiện ra để con được cảm ơn.
Lúc đó có một ông tiên hiện ra và nói: Ta là thiên thần bản mệnh của con. Ta hiện ra để cứu con khỏi sự nguy hiểm.
Lúc này người đàn ông không những không tạ ơn mà còn trách mắng ông tiên: (...............)
Các bạn biết vì sao ông kia không cảm ơn mà còn trách mắng ông tiên không? Và ông trách ông tiên như thế nào không?
Đây là nguyên nhân
Thế sao 10 năm trước đây khi tôi chuẩn bị lấy vợ ông lại không hiện ra.
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39298
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
MTT lại thiếu rồi: "Đường cong dài hơn đường thẳng"
Chưa chắc. Nếu 1 đường cong 3m thì có dài hơn đường thẳng 4m không? Vì vậy vấn đền ở đây là câu chữ chưa chỉnh thôi.
Không phải bắt lỗi đâu nhé, vì tui sợ có người nghiệm ra và thét méc thôi....
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39296
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Cảm ơn nhiều nhiều...
MTT hãy xem lại câu đố Lịch sử VN của miss đi và nhớ trả lời giúp câu hỏi cuối cùng của tui dành cho miss nhé
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39295
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Mỏi tay qua rồi nhưng ráng chút xíu nữa để họi MTT một câu thôi:
- Dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam có bao nhiêu đời Tổng thống Mỹ? Có thể không kể tên, nhưng kể được thì GNLT có thêm một kiến thức........
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39294
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Các câu còn lại xin được tóm tắt như sau:
Ðại Cồ Việt (nước Việt lớn). Quốc hiệu này duy trì suốt đời Ðinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053).
Năm 1054, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày mới tắt, nhà Lý liền cho đổi tên nước là Ðại Việt và quốc hiệu Ðại Việt được giữ nguyên đến hết thời Trần..
Ðại Việt, Tồn tại 748 năm (1054-1804)
Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi toàn thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước là Ðại Việt (lãnh thổ nước ta lúc này về phía Nam đã tới Huế).
Quốc hiệu Ðại Việt được giữ qua suốt thời hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-1804).
Ðại Ngu, Tồn tại 7 năm (1400-1406)
Tháng 3-1400, Hồ Quý Ly phế Trần Thiếu Ðế, lập ra nhà Hồ và cho đổi tên nước thành Ðại Ngu ("ngu" tiếng cổ có nghĩa là "sự yên vui"). Quốc hiệu đó tồn tại đến khi giặc Minh đánh bại triều Hồ (tháng 4-1407).
Việt Nam, Tồn tại 80 năm (1804-1884)
Năm 1802, Nguyễn Ánh đăng quang, mở đầu thời Nguyễn và cho đổi tên nước là Việt Nam, Quốc hiệu Việt Nam được công nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao để trở thành chính thức vào năm 1804. Tuy nhiên, hai tiếng "Việt Nam" lại thấy xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử nước ta. Ngay từ cuối thế kỷ 14 đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí do trạng nguyên Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đầu thế kỷ 15) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Ðiều này còn được đề cập rõ ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), chẳng hạn ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Phòng, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Tây, bia chùa Phúc Thành (1664) ở Bắc Ninh.... Ðặc biệt bia Thuỷ Môn Ðình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngõ yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam).
Ðại Nam: Tồn tại trên lý thuyết 107 năm (1838-1945)
Ðến đời vua Minh Mạng (1820-1840), quốc hiệu được đổi thành Ðại Nam. Dù vậy, hai tiếng "Việt Nam" vẫn được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm văn học, trong nhiều giao dịch dân sự và quan hệ xã hội.
Thời gian còn lại là từ 19/08/1945 đến nay....
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39293
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Câu 2 và câu 3 cin trả lời chung:
CUỘC CHỐNG QUÂN XÂM LĂNG NHÀ NAM HÁN
CỦA NGÔ QUYỀN
(939 – 967)
Ngô Quyền người ở Đường Lâm (cùng quê với Phùng Hưng), một dòng dõi quý tộc, cha là Mân làm quan Bản Châu, ông có chí lớn, mưu cao, tài kiêm văn võ, khi quân Nam Hán còn ngấp nghé bên ngoài bờ cõi, ông đã sửa soạn công cuộc ứng chiến, và việc trước hết là chiếm lấy thành Đại La, giết tên phản chủ bán nước Kiều Công Tiễn để trừ nội họa; ổn định tình hình trong nước.
Cuối năm 938, vua Nam Hán ra lệnh cho hàng trăm vạn quân, do thái tử Lưu Hoằng Thao chỉ huy, ồ ạt kéo sang xâm chiếm nước ta. Trận chiến oanh liệt diễn ra trên sông Bạch Đằng, Hoằng Thao bị chết, còn quân giặc phần bị giết, phần bị chết chìm hoặc bị bắt, thiệt hại quá nửa. Hán chủ đành phải nuốt hận thu tàn quân về Tàu, chấm dứt thời kỳ mất nước kéo dài 1031 năm (một nghìn không trăm ba mươi mốt năm).
Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, thành lập một quốc gia độc lập, đóng đô ở Cổ Loa (tỉnh Phú Yên) ở ngôi mới được sáu năm thì mất. Đáng lẽ ngôi cửu ngũ phải về tay Ngô Xương Ngập, con trưởng Ngô Quyền, nhưng Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền và là con trai Dương Đình Nghệ) lại đoạt mất và xưng vương. Năm 950, Ngô Xương Văn là em Ngô Xương Ngập, nhờ có Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc giúp sức, liền từ Sơn Tây kéo quân về vây thành và bắt được Tam Kha, nhưng vì nể tình cậu cháu tha cho Tam Kha tội chết. Khi đã chiếm được chính quyền, Ngô Xương Văn tự xưng Nam Tấn Vương và cho người đi triệu anh là Ngô Xương Ngập, tức Thiên Sách Vương về kinh để cùng coi việc nước. Nhưng tình hình lúc ấy rối loạn, cuối đời nhà Ngô, anh em Ngô xương Văn và con cháu bất lực nên mới có cảnh Thập nhị sứ quân.
Mỗi sứ quân chiếm giữ một vùng đất, xây thành đắp lũy, nhằm thôn tính lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hai mươi hai năm (945-767), gây ra không biết bao là tổn thất về nhân mạng và tài sản; dân tình phải chịu cực khổ lầm than. Sự sống còn của một dân tộc không thể để tình trạng ấy kéo dài thêm nữa; hoàn cảnh và lịch sử đòi hỏi phải chấm dứt cuộc nội loạn, thống nhất đất nước về một mối.
***********************************************************
Thời nhà Đinh (968-980) dẹp xong loạn 12 sứ quân, lập nên một nước độc lập, lấy tên là Đại Cồ Việt. Sang thời Lý đổi là Đại Việt. Đến thời Nguyễn, vua Gia Long Nguyễn Ánh, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, đổi tên là nước Việt Nam. Một chi tiết khá lý thú là từ 500 nǎm trước, ngay trang mở đầu tập "Trình tiên sinh quốc ngữ" của Nguyễn Bình Khiêm có ghi "Việt Nam khởi tố xây nền" khẳng định tên nước ta là Việt Nam. Một sự tiên đoán chính xác.
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39292
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Hùng triều ngọc phả cho hay họ Hồng Bàng truyền được 18 đời, gồm:
1- Hùng Dương
2- Hùng Hiền
3- Hùng Lân
4- Hùng Việp
5- Hùng Hy *
6- Hùng Huy
7- Hùng Chiêu
8- Hùng Vỹ
9- Hùng Ðịnh
10- Hùng Hy *
11- Hùng Trinh
12- Hùng Võ
13- Hùng Việt
14- Hùng Anh
15- Hùng Triều
16- Hùng Tạo
17- Hùng Nghị
18- Hùng Duệ
* (mặt chữ hán của hai chữ Hy này hoàn toàn khác nhau)
Nước Văn Lang tồn tại khoảng 300 năm và con số 18 đời Hùng Vương cho đến nay vẫn là con số của huyền sử.
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39291
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Không biết MTT hỏi hay là đố. Nhưng tui xin trả lời thế này:
Họ Hồng Bàng - Lạc Long Quân
Theo truyền thuyết thì thủy tổ dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương, hiện còn có mộ tại làng An Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Kinh Dương Vương làm Vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (hơn 2000 năm trước Công Nguyên ). Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long là Vua Hồ Ðộng Ðình sinh một con trai đặt tên là Sùng Lãm, sau nối ngôi Vua cha niên hiệu là Lạc Long Quân lấy con gái Ðế Lai là Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, một trăm trứng nở ra một trăm người con trai là tổ tiên của người Bách Việt.
Một hôm nhà Vua bảo bà Âu Cơ: "Ta là giống Rồng , nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó ". Bèn từ biệt , chia năm chục người con theo mẹ lên núi, năm chục người con theo cha về phía nam miền biển, phong cho con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi.
Hùng Vương lên ngôi Vua , đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú ), chia nước ra làm 15 bộ:
Văn Lang (Bạch Hạc, Vĩnh Phú ) .
Châu Diên ( Sơn Tây ).
Phúc Lộc (Sơn Tây ) .
Tân Hưng ( Hưng Hoá- Tuyên Quang ).
Vũ Ðịnh ( TháI Nguyên- Cao Bằng ) .
Vũ Ninh ( Bắc Ninh ).
Lục Hải ( Lạng Sơn ).
Ninh Hải ( Quảng Yên ).
Dương Tuyền ( Hải Dương ).
Giao chỉ ( Hà Nội, Hưng Yên, Nam Ðịnh, Ninh Bình ).
Cửu Chân ( Thanh Hoá ).
Hoài Hoan ( Nghệ An ).
Cửu Ðức ( Hà Tĩnh ).
Việt Thường ( Quảng Bình- Quảng Trị ).
Bình Văn ( ? )
Các đời Vua sau đều gọi là Hùng Vương , có 18 đời Vua Hùng Vương. Ðặt các tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai Vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính .
Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng là nhà nước phôi thai đầu tiên của Việt Nam, còn rất đơn giản, mặc dù mới hình thành nhưng đã cố kết được lòng người. Từ tình cảm cộng đồng dẫn đến ý thức cộng đồng, thể hiện rõ tình đồng bào ruột thịt . Họ bước đầu hiểu được mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người thấy được sức mạnh của cộng đồng trong việc làm thuỷ lợi, trao đổi sản phẩm và đấu tranh giữ gìn bản làng, đất nước.
Thời đại Hùng Vương có hai truyền thuyết được loan truyền mãi trong dân gian thể hiện rõ tinh thần đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt: Phù Ðổng Thiên Vương và Sơn Tinh Thủy Tinh.
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39278
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Làm gì tui bị dịch cúm gà được chứ. Tui không tránh nhưng câu chuyện tôi nghe là như vậy, tui kể lại như vậy thôi.
TAM SAO THẤT BỔN, các bạn có nghe câu này chưa. Chuyện dân gian có rất nhiều dị bản.
Còn chuyện Trường Minh Đăng của Lỗ Tấn mà tui tóm tắt cho các bạn thì thế nào?
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39274
08/20/2004
|
>>
xem chủ đề
Cô gái nói: nếu muốn làm gì thì anh chỉ cần hỏi ngược lại.
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39193
08/19/2004
|
>>
xem chủ đề
Cái thì hình như Ông Già rành lắm. Tui ở trong nước nên cũng ít nghiên cứu về cơ câu nhà nước Tư Bản. Nhưng ở Mỹ có Hạ viện và Thượng Viện phải không các bạn.
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39191
08/19/2004
|
>>
xem chủ đề
Tranh luận chứ đừng tranh cãi các bạn ơi.
Nhân việc xuc xac nói tới việc "đốt đền" tui xin kể các bạn nghe câu chuyện "Trường Minh Đăng" của nhà văn Lỗ Tấn nhé.
Ở một làng nọ có một ngôi đền, trong đền có một ngọn đèn. Ngọn đèn được thắp sáng suốt ngày đêm và không được tắt, vì ngọn đèn là tượng trưng cho sự bình an của dân làng, nếu tắt là làng gặp nạn.
Có một người điên muốn thổi tắt ngọn đèn đó đi, nhưng bị dân làng phát hiện và bắt anh ta. Từ trong nhà lao anh ta vẫn nói với mọi người. Hãy thổi tắt ngọn đèn đó đi, nếu không thổi được thì đốt cả cái đền, ngọn đèn sẽ tắt.
Xin các bạn cho ý kiến về tư tưởng này.
|
|
giangnamlangtu
member
REF: 39184
08/19/2004
|
>>
xem chủ đề
Hành lý của những kẻ lữ hành nặng nhất là cái gì thì còn tuỳ người đó đi đâu và mang theo cái gì nữa.
Riêng tôi:
Rách tả tơi rồi đôi hài vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
hihihihihi
|
|
|
|
Kí hiệu:
:
trang cá nhân :chủ
để đã đăng
:
gởi thư
:
thay đổi bài
:ý kiến |
|
|
|
|
|